Đo và đánh giá bụi bông trong môi trường lao động theo QCVN 02:2019/BYT

       Là bụi phát sinh trong không khí trong quá trình thao tác, chế biến bông, đay, lanh, gai.

       Bụi bông là hỗn hợp nhiều chất khác nhau nhưu là sợi bông, đay, lanh, gai, vi khuẩn, nấm, đất, các hóa chất bảo vệ thực vật ngoài ra còn có các sợi thực vật không phải bông và các chất ô nhiễm khác tích lũy với bông trong quá trình phát triển, thu hoạch hoặc trong các giai đoạn chế biến hoặc bảo quản.

Tính chất của bụi bông

  • Là bụi thực vật có dạng sợi.
  • Thành phần rất phức tạp và rất dễ thay đổi thậm chí bông trồng trong cùng một khu vực có thể có thành phần khác nhau
  • Các nội độc tố của vi sinh vật được coi là tác nhân chủ yếu gây ra bệnh bụi phổi bông.

Nguồn gốc phát sinh và vị trí tiếp xúc với bụi bông trong môi trường lao động

Nguồn phát sinh

       Phát sinh trong quá trình cán hạt bông, đóng kiện bông, cào bông, xé bông, chải bông, ghép và kẻo sợ thô, máy sợ con, xe và dệt vải.

Vị trí tiếp xúc:

       Công nhân trồng, thu hoạch và chế biến bông, đay, lang, gai.

       Công nhân sản xuất ở dây chuyền kéo sợi.

       Công nhân bộ phận, phân xưởng dệt vải.

       Công nhân bộ phận làm mềm, chải và kéo sợi.

Các ngành nghề thường tiếp xúc với bụi bông

       Công nghiệp sản xuất chế biến và kẻo sợi lanh – gai, dứa sợi.

       Công nghiệp dệt, sản xuất sợi vải.

       Sản xuất sợi chỉ, dệt vải, may mặc

       Các cơ sở sử dụng chế biến bông tái sinh.

Tác hại của bụi bông và bệnh bụi phổi bông

Tác hại:

  • Gây nên bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp làm giảm khả năng lao động, tiến triển biến chứng thường kèm theo viêm phế quản cấp và mạn tính.
  • Ngoài bụi sợi bông ra thì bụi sợi lanh, gai, cây dứa, cũng là nguyên nhân. Những loại bụi này chỉ gây bệnh khi dùng phương pháp ngâm lấy sợi.

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh bụi phổi:

  • Làm trong tất cả các công đoạn tiếp xúc và sơ chế sợi bông.
  • Làm công nhân nhà máy sản xuất và chế biến bông y tế do quá trình hấp ướt bông nguyên liệu.
  • Làm việc tại các cơ sở sử dụng bông tái sinh, do bông bị nhiểm bẩn bởi vi sinh vật rất nặng nề.

Giới hạn tiếp xúc cho phép của bụi bông tại nơi làm việc theo QCVN 02:2019/BYT

Đơn vị: mg/m3

STT

Tên chất

Giới hạn tiếp xúc ca làm việc (TWA)

1

Bụi bông

1,0

 

Kỹ thuật xác định nồng độ bụi bông

Nguyên tắc lấy mẫu bụi bông

Không khí được hút vào đầu lấy mẫu và có gắn cát-xét chứa giấy lọc bằng một bơm hút,  với đầu lấy mẫu là tấm sàng thẳng đứng tạo ra dòng khí lớp mỏng chậm tương đương với tốc độ rơi của phân tử bụi ở điểm cuối trên của giải hô hấp. Các phân tử có tốc độ rơi lớn hơn tốc độ rơi này như sợi xơ vải và bụi bông bay, các loại bụi có đường kính khí động lớn hơn 15 µm và tỷ trọng bằng 1 sẽ không đi tới giấy lọc và sẽ không được lấy mẫu. Mẫu thu thập sẽ bao gồm loại bụi bông mịn và một phần bụi lơ lửng (có khả năng đọng trong khí – phế quản và phế nang). Cân giấy lọc trước và sau lấy mẫu, sau đó dựa vào lượng bụi thu được và thể tích không khí đã lấy mẫu để tính toán nồng độ bụi bông trong không khí, đơn vị tính mg/m3.

Vị trí lấy mẫu bụi bông

Lấy mẫu bụi trực tiếp tại các vị trí người lao động làm việc. Đầu thu mẫu bụi phải được đặt ở ngang tầm giữa mũi và miệng (vùng hô hấp) của công nhân. Các mẫu trong khu vực làm việc đều được lấy trong những giai đoạn làm việc bình thường.

Lấy mẫu bụi bông và tính toán số liệu

Máy lấy mẫu bao gồm 2 loại là bơm hút và tấm sàng thẳng đứng. Lưu lượng khi được kiểm soát ở 7,4 ± 0,2 lít/phút bằng một lỗ giới hạn đòi hỏi áp suất chân không trên 14inchHg (35cmHg).

Tấm sàng thẳng đứng phải được làm sạch và  tiếp theo là bơm hút phải được kiểm tra trước khi lấy mẫu.

(Liên hệ Công ty TCS – Kỹ thuật môi trường)

 

Quy định quản lý và hiệu lực thi hành

– Thông tư này có hiệu lực từ ngày 22 tháng 9 năm 2019.

– Tiêu chuẩn bụi amiăng, tiêu chuẩn bụi chứa silic, tiêu chuẩn bụi không chứa silic và tiêu chuẩn bụi bông trong Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động ban hành theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

Các cơ sở có người lao động tiếp xúc với nồng độ bụi bông trong không khí phải định kỳ quan trắc môi trường lao động và đánh giá yếu tố tiếp xúc bụi tối thiểu 1 lần/năm theo quy chuẩn này và các quy định có liên quan của các luật như là Bộ Luật lao động; Luật an toàn, vệ sinh lao động.

 Người sử dụng lao động phải cung cấp và trang bị phương tiện bảo hộ lao động cho người lao động phù hợp với môi trường và môi trường làm việc theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

 Trường hợp cơ sở sử dụng lao động có nồng độ bụi bông tại nơi làm việc vượt giá trị giới hạn tiếp xúc cho phép theo quy chuẩn này thì người sử dụng lao động phải tiến hành thực hiện ngay các giải pháp, biện pháp để cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo về vệ sinh, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

 

Share on facebook
Facebook
Share on google
Google+
Share on twitter
Twitter
Share on linkedin
LinkedIn
Share on print
Print
Share on skype
Skype